Trang ChínhCalendarTrợ giúpTìm kiếmThành viênNhómĐăng kýĐăng Nhập

Share | 
 

 Tôn Sùng Thánh Tâm Chúa Giêsu

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
NgNgHai
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 1338
Join date : 28/04/2011

Bài gửiTiêu đề: Tôn Sùng Thánh Tâm Chúa Giêsu   Sun Jun 17, 2012 9:06 am

Chúa Nhật 17/06/2012

Tôn Sùng Thánh Tâm Chúa Giêsu
June 9, 2012 By Phaolo

Tôn sùng Thánh Tâm là một việc thờ phượng rất phổ biến trong Hội Thánh Việt Nam.
Tượng ảnh Thánh Tâm được kính thờ đặc biệt tại các nhà thờ và các tư gia.

Việc kính thờ Thánh Tâm được thực hiện bằng nhiều cách. Như ca hát, đọc kinh, dâng mình. Có hình thức nhỏ. Có hình thức lớn.

Nói chung, tấm lòng người công giáo Việt Nam đối với Thánh Tâm đúng là tâm tình đạo đức nhiệt thành. Tâm tình này là một cách đáp trả lòng thương xót đặc biệt Chúa dành cho chúng ta.

Để tâm tình đạo đức này được tiếp tục kéo nhiều ơn Chúa xuống cho ta, nhất là trong thời buổi có nhiều thử thách về sống đạo như hiện nay, tôi xin phép trình bày một chia sẻ. Chia sẻ của tôi ở đây là nêu lên vài việc thiết tưởng nên nhấn mạnh trong việc tôn sùng Thánh Tâm.

1. Ăn năn sám hối

Ăn năn sám hối là việc cần thiết đầu tiên được nhắc đi nhắc lại trong Phúc Âm.

Thánh Gioan Baotixita, khi đi rao giảng dọn đường cho Chúa Cứu thế đến, Ngài luôn chọn đề tài ăn năn sám hối (x. Lc 1-18).

Chúa Giêsu khi khai mạc giai đoạn rao giảng Tin Mừng, cũng đã bắt đầu bằng việc khuyên người ta ăn năn sám hối. Phúc Âm kể: “Đức Giêsu rao giảng và nói rằng: Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã gần đến” (Mt 4,17).

Chúa Giêsu, khi cảnh cáo con người về nguy cơ bị những tai hoạ khủng khiếp huỷ hoại, Người cũng khuyên mọi người hãy ăn năn sám hối (x. Lc 13,1-5).

Chúa Giêsu, khi sai các tông đồ đi các nơi để loan báo về Nước Trời, Người cũng nói rõ với các ông về sứ vụ phải khuyên người ta ăn năn sám hối. “Các ông đi rao giảng, kêu gọi người ta ăn năn sám hối” (Mc 6,12).

Chúa Giêsu, khi dặn dò những lời sau hết, trước khi lên Trời, Người cũng đã nhấn mạnh với các tông đồ: “Phải nhân danh Người mà rao giảng cho muôn dân…, kêu gọi họ sám hối để được ơn tha thứ” (Lc 24,47).

Vâng lời Chúa Giêsu, các tông đồ đã làm như Thầy mình dạy.

Trong bài giảng thứ nhất, thánh Phêrô đã tha thiết khuyên dân: “Anh em hãy sám hối” (Cv 2,38).

Trong bài giảng thứ hai, thánh Phêrô lặp lại cũng lời khuyên đó: “Anh em hãy sám hối và trở lại cùng Chúa” (Cv 3,19).

Cùng một đường lối như thánh Phêrô là đi giảng việc ăn năn sám hối, thánh Phaolô và các tông đồ khác đều hăng hái kêu gọi mọi người đổi mới con người của mình bằng việc ăn năn sám hối.

Trong các lần hiện ra, Đức Mẹ cũng nhắn nhủ các con cái Mẹ hãy ăn năn sám hối. Tất cả những việc đạo đức, mà Hội Thánh khuyên dạy chúng ta làm, bao giờ cũng mở đầu bằng việc thanh luyện tâm hồn chúng ta bằng việc ăn năn sám hối.

Nếu ăn năn sám hối là việc đặc biệt quan trọng như bước đầu cần thiết để thờ phượng Chúa, thì việc đó càng nên được chúng ta thực hiện trong mọi hình thức tôn sùng Thánh Tâm. Bởi vì chính Thánh Tâm là Tình yêu Chúa tạo dựng, cứu chuộc, nhưng dễ bị xúc phạm và bị bỏ quên. Chính tình yêu đó luôn lo lắng cho phần rỗi chúng ta. Người chỉ mong chúng ta hãy biết đón nhận ơn cứu chuộc bằng việc ăn năn sám hối chân thành.

Một điều thiết tưởng nên nhớ trong việc ăn năn sám hối, là cần để ý đến tính cách cụ thể. Ăn năn về tội gì? Sám hối về tính mê nết xấu nào? Quyết tâm ra sao để sửa đổi những hành vi, cử chỉ, ngôn từ, cách suy nghĩ, cách phán đoán trước đây không tốt. Phúc Âm thường hay dạy chúng ta về tính cách cụ thể trong việc ăn năn sám hối, để việc đổi mới chính mình được hữu hiệu.

Cùng với việc ăn năn sám hối, chúng ta còn nên nghĩ đến một việc nữa, khi tôn sùng Thánh Tâm. Việc đó là dâng mình cho Thánh Tâm.

2. Dâng mình cho Thánh Tâm

Để hiểu thế nào là dâng mình cho Thánh Tâm, chúng ta nên đọc và suy gẫm những lời Phúc Âm sau đây:

“Rồi, Chúa Giêsu gọi đám đông cùng các môn đệ lại. Người nói với họ rằng: Ai muốn theo Ta, phải từ bỏ mình, vác thập giá mình mà theo Ta. Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất. Còn ai liều mất mạng sống mình vì Ta và vì Tin Mừng, thì sẽ cứu được mạng sống ấy. Vì được cả thế gian, mà phải thiệt mất mạng sống mình, thì người ta nào có lợi gì? Quả thật, người ta lấy gì mà đổi lại mạng sống mình?” (Mc 8,34-38).

Như thế, ai dâng mình cho Thánh Tâm cần thực hiện những việc sau đây:

Từ bỏ mình,
Vác thánh giá mình,
Theo Chúa Giêsu.

Thực hành những đòi hỏi trên đây được hiểu là thực thi thánh ý Chúa. Thực thi thánh ý Chúa là căn bản của tinh thần thờ phượng, đáng Chúa nhận là chứng từ thuộc về Chúa, như lời Chúa Giêsu phán:

“Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: Lạy Chúa, lạy Chúa, là được vào Nước Trời cả đâu. Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi” (Mt 7,21).

Đừng vội cho rằng: Thực thi thánh ý Chúa với những đòi hỏi từ bỏ mình, vác thánh giá mình và theo Chúa là chọn cho mình một gánh nặng khổ cực. Nhưng hãy tin vào lời Chúa ủi an nhắn gởi: “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng Ta, Ta sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. Anh em hãy mang lấy ách của Ta, và hãy học với Ta, vì Ta có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng. Vì ách của Ta thì êm ái, và gánh của Ta thì nhẹ nhàng” (Mt 11,28-30).

Những lời Chúa hứa trên đây là một bảo đảm quý giá cho những ai tôn sùng Thánh Tâm Chúa một cách xứng đáng, nhất là theo gương Thánh Tâm mà sống bác ái và khiêm nhường Phúc Âm.

Cuộc đời là một cuộc giao tranh giữa thiện và ác. Xác thịt thì yếu đuối. Thế gian thì nông nổi. Quỷ thì độc dữ. Chúng thường lôi kéo chúng ta theo đàng tội. Chúng ta hãy khôn ngoan và tỉnh thức trong các chọn lựa.

Cách chọn lựa chắc chắn nhất là hãy nương tựa vào Thánh Tâm Chúa Giêsu. Ngài rất gần gũi ta. Ta nương tựa bằng lòng tôn sùng với hai việc trọng yếu là sám hối và dâng mình.

Luôn luôn được ở lại trong Thánh Tâm Chúa Giêsu, đó là lời cầu đơn sơ của những tâm hồn bé mọn. Thiết tưởng đó cũng là tiếng gọi âm thầm của Thánh Tâm gởi tất cả mọi người thiện chí đã cảm nghiệm về tính cách mong manh của cuộc đời.

+GM GB Bùi Tuần

__________________________________
NNH Sk...


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://runglathap.forumvi.net
NgNgHai
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 1338
Join date : 28/04/2011

Bài gửiTiêu đề: Re: Tôn Sùng Thánh Tâm Chúa Giêsu   Sun Jun 17, 2012 9:20 am

THÁNH TÂM CHÚA GIÊ-SU
Ngày 07/6/2002

Ngày thế giới xin ơn thánh hóa các linh mục
Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT


CHÚA GIÊ-SU LÀ TÌNH YÊU THẬT
Mt 11, 25- 30

Chúa Giê-su khi bị treo trên thập giá đã nói lên sự thật tuyệt vời, một sự thật chỉ có thể diễn tả qua cái chết của chính mình. Chết mới nói lên lời. Nhân loại suốt hơn hai ngàn năm đã tôn thờ một con người bị đóng đinh vào thập giá. Cái trớ trêu là các môn đệ và nhiều người Do Thái lúc đó vẫn cứ tưởng Chúa Giê-su tới để thiết lập lại Vương quốc Israen đã bị tồn vong. Khôi phục lại Vương quốc Israen là mong ước của các môn đệ và hầu hết người Do Thái thời Chúa Giê-su Nhưng, Chúa Giê-su lại sống khác cái quan niệm cũ rích, trần tục ấy. Con đường của Chúa là con đường thập giá, con đường thử thách, chông gai .Ðường của Chúa là đường chết vì tình yêu, chết cho nhân loại được hạnh phúc, được hưng thịnh. Chúa nói: "Không có tình yêu nào cao vời cho bằng tình yêu của con người hiến thân vì người mình yêu" (Ga 15, 13). Có đứng dưới chân thập giá, nhân loại mới hiểu được hết chữ yêu: " Phần Tôi, một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, Tôi sẽ kéo mọi người lên với Tôi " (Ga 12, 32).

I.CHÚA GIÊ-SU MỘT CON NGƯỜI ÐƯỢC YÊU MẾN:

Trải dài suốt dòng lịch sử nhân loại,có biết bao các bậc vĩ nhân, anh hùng, khoa học gia, kinh tế gia, văn nghệ sĩ vv.nhưng không một nhân vật nào, không một người nào có sức thu hút như Chúa Giê-su trên thập giá. Kinh Thánh của Ngài được khắp hoàn cầu biết tới . Cái chết của Ngài vẫn vang dội từ thế hệ này tới thế hệ khác . Bản án bất công của Ngài vẫn muôn đời được nhắc đến như một thách đố , một suy nghĩ sâu xa cho lòng tin của muôn đời . Một Phêrô chối Thầy , rồi ăn năn sám hối . Một Phaolô dong duổi bắt bớ đạo Chúa , rồi cũng sớm hồi tâm khi phải đối diện với sự thật là Chúa Giê-su trên đường Damas .Các môn đệ Chúa trong biến cố Thầy mình chịu chết, đã lơ là với Chúa, nhưng rồi họ cũng quay trở về khi họ nhận ra Chúa Giêsu là Ðấng chân thật và Ðấng yêu thương đến quên cả bản thân mình .Chỉ mình Giuđa đã quay lưng và không dám ngoảnh mặt lại để nhận ra Ðấng mãi mãi là yêu .Còn Philatô đứng trước Sự Thật là Chúa Giê-su nhưng vẫn không nhận ra Ngài và phủi tay không dám bênh vực Ngài .Tại sao Chúa Giê-su lại được mến chuộng và được biết tới như một người đáng khâm phục hay một cách nào đó như một Ðấng đáng phải suy nghĩ ?-Thưa vì chính Ngài là Tình Yêu . Chúa Giê-su đã yêu thương con người đến quên mình, đã hy sinh tất cả vì con người, Ngài đã qui tụ, tìm kiếm từng con chiên lạc, Ngài đã gọi tên từng con chiên và băng bó vết thương cho từng con chiên bị thương. Chúa đã nói :" Ta là mục tử tốt lành, Ta biết chiên Ta và các chiên Ta biết Ta . Như Cha biết Ta và Ta biết Cha, và Ta thí mạng sống Ta vì đàn chiên."( Ga 10, 14- 18 ). Thánh Phaolô cũng đã nói :" .như Ðức Kitô đã yêu thương chúng ta, và vì chúng ta , đã tự nộp mình làm hiến lễ, làm hy sinh dâng lên Thiên Chúa tựa hương thơm ngào ngạt " ( Eph.5, 2 ).Chính Chúa là Tình Yêu thật , một tình yêu vô vị lợi, tình yêu đổ tới giọt máu cuối cùng nơi cạnh sườn và nơi trái tim rực cháy, nên Ngài khác mọi người dù người đó là các bậc hiền sĩ hay vĩ nhân .Chúa Giê-su được mến chuộng, yêu thương vì Ngài là Tình Yêu chung thủy, tình yêu vững bền, tình yêu không mục nát .

II.CHÚA GIÊ-SU MỜI GỌI CHÚNG TA YÊU THƯƠNG NHƯ NGÀI:

Chúa Giê-su đã sống yêu thương và thực hành yêu thương . " Thiên Chúa là tình Yêu " ( 1 Ga 4, 16 ).Chúa Giêsu đã yêu ta và đòi ta yêu thương bằng một tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa :" Như Cha đã yêu mến Ta, Ta đã yêu mến các ngươi. Hãy lưu lại trong lòng yêu mến của Ta.Hãy yêu mến nhau như Ta đã yêu mến các ngươi ." ( Ga 15, 9-12 )." Cứ dấu này người ta sẽ nhận biết các ngươi là môn đệ của Ta là các con yêu mến nhau " .Chúa Giê-su làm gương phục vụ và yêu thương như việc Ngài rửa chân cho các môn đệ, Ngài cùng ăn , cùng ở , cùng làm, cùng chia sẻ với các môn đệ. Những việc làm ấy, diễn tả tình yêu của Ngài đối với các môn đệ để các môn đệ noi gương bắt chước Ngài . Chúa Giê-su đã yêu thương các môn đệ bằng một tình yêu hoàn toàn vô vị lợi, tình yêu đi bước trước ."Tình yêu ấy là thế này: không phải ta đã yêu thương Thiên Chúa, nhưng chính Ngài đã yêu thương ta trước."( 1 Ga 4, 10 ). "Thiên Chúa đã yêu thương ta ngay khi ta còn là tội nhân" ( Rm 5, 8 ) .Chúa không đợi ta phải xin Ngài trước, nhưng chính Ngài đã đi bước trước như bên bờ thành giếng Giacóp, Ngài đã biến đổi lòng dạ của người nữ samaria , như vào nhà ông Giakêu, Chúa đã cải hóa tâm hồn ông ; như bên bàn thu thuế Chúa đã biến đổi con người Lêvi . Chúa yêu ta và Chúa kêu mời ta hãy yêu như Ngài. Tình yêu phát xuất từ Thiên Chúa là tình yêu bền bỉ và vững mạnh. Trong cuốn : Tiếng nói bên trong của Tình Yêu ( The Inner of love ) của tác giả Henri J. M. Nouwen có đoạn viết rằng: "Khi tình yêu đến từ Thiên Chúa, thì tình yêu đó bền bỉ. Bạn có thể đón nhận tình chung thủy của tình yêu như quà tặng của Thiên Chúa, và bạn trao tặng lại cho người khác tình thủy chung này. Khi người khác ngừng yêu bạn, phần bạn, bạn đừng ngừng yêu lại người ta." .

Là con cái Thiên Chúa, Chúa Giêsu đã cho ta tình yêu không điều kiện, Chúa cũng muốn ta sẽ tự nguyện trao tặng một tình yêu nhưng không, vô vị lợi. Cái nghịch lý lớn lao trong tình yêu là ta đã nhiều lần nhận tình yêu mà chính ta không nhận ra. Vậy, với Con tim của Chúa Giêsu, nơi tuôn trào nước và máu sẽ giúp ta gột rửa được hết mọi ích kỷ, mọi qui hướng về mình để tất cả sống cho tha nhân bằng một tình yêu hoàn toàn vô vị lợi. Ðó là tình yêu thật, tình yêu phát xuất nơi cạnh sườn và nơi trái tim Chúa Giê-su bị đóng đinh trên thập giá.

Hôm nay là ngày thế giới xin ơn thánh hóa các linh mục quả rất thích hợp khi Giáo Hội mừng lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu vì đứng trước những thách đố của một thế giới siêu văn minh với những phương tiện, máy móc tiến bộ vượt bực, với những trào lưu, tư tưởng có thể làm lu mờ hình bóng người linh mục. Ðó đây trên thế giới, có những nơi hình ảnh người linh mục bị ô uế như lạm dụng tình dục, như chạy theo vật chất, chạy theo mốt, chạy theo đời. Nhưng tất cả những sự kiện ấy chỉ là những thách đố giúp thanh tẩy người linh mục. Hình ảnh người linh mục vẫn luôn đẹp khi ta qui chiếu về Chúa Giêsu, vị Mục Tử tốt lành. Trong mười hai môn đệ, có Giuđa bán Chúa.

Nơi này nơi kia chắc chắn vẫn có Giuđa, nhưng chỉ là số rất ít. Chúa Giê-su vẫn yêu thương các linh mục, những bàn tay nối dài của Chúa và lúc nào Ngài cũng muốn các linh mục sống hiền lành, khiêm nhượng như chính mẫu gương của Ngài. Cầu nguyện cho các linh mục càng ngày càng giống Chúa Giê-su là trách nhiệm và nghĩa vụ của mọi người.

Xin Chúa ban cho các linh mục càng ngày càng thánh thiện theo gương vị Mục Tử nhân lành là Chúa Giêsu.
Xin Chúa ban cho các linh mục biết sống đời sống như Mẹ Maria và luôn biết noi lời xin vâng như Ðức Mẹ.
Xin Chúa thánh hóa các linh mục để các Ngài hoàn toàn sống cho Chúa và cho tha nhân.

Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi, DCCT

_____________________________________
NNH Sk...


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://runglathap.forumvi.net
NgNgHai
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 1338
Join date : 28/04/2011

Bài gửiTiêu đề: Re: Tôn Sùng Thánh Tâm Chúa Giêsu   Sun Jun 17, 2012 9:39 am

Tìm hiểu về THÁNH TÂM CHÚA GIÊSU
TRẦM THIÊN THU
(Chuyển ngữ từ NewAdvent.org)


Lòng sùng kính Thánh Tâm là dạng sùng kính đặc biệt đối với Chúa Giêsu. Chúng ta biết lòng sùng kính đó là gì và khi chúng ta xác định đối tượng, nền tảng, và hành động đúng lòng sùng kính này.

Khách thể đặc biệt của lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu.

Bản chất của vấn đề này phức tạp và thường trở nên nhiêu khê hơn vì những khó khăn nảy sinh từ thuật ngữ. Bỏ qua những thuật ngữ mang tính kỹ thuật quá, chúng ta sẽ tìm hiểu chính các ý tưởng, và chúng ta có thể sớm tìm ra ý nghĩa, sẽ tốt để ghi nhớ ý nghĩa và dùng chữ “trái tim” trong ngôn ngữ hiện hành.

(a) Trước hết, chữ “trái tim” gợi ý tưởng về một trái tim vật chất, một cơ phận chính đập nhịp trong lồng ngực, và chúng ta nhận thấy nó liên kết không chỉ với thể lý, mà còn với cảm xúc và đời sống luân lý. Trái tim bằng thịt này được chấp nhận là biểu tượn của cảm xúc và đời sống luân lý, do đó mà chữ “trái tim” có trong ngôn ngữ hình tượng, “trái tim” cũng chỉ định những thứ được hình tượng hóa là trái tim. Chẳng hạn, cách diễn tả “mở lòng”, “trao tặng trái tim”, v.v… Có thể biểu tượng đó không còn ý nghĩa vật chất. Như vậy, trong ngôn ngữ, chữ tâm hồn cũng không còn chỉ mang ý nghĩa về hơi thở, và chữ “trái tim” làm chúng ta nghĩ tới sự can đảm và yêu thương. Nhưng có thể đây là cách nói hoặc phép ẩn dụ chứ không hẳn là biểu tượng. Biểu tưởng là dấu hiệu thật, do đó mà phép ẩn dụ chỉ là dấu hiệu bằng lời nói; biểu tượng là cái thể hiện một cái khác, nhưng phép ẩn dụ là chữ dùng để chỉ định cái gì đó khác với nghĩa riêng của nó. Cuối cùng, trong ngôn ngữ, chúng ta luôn chuyển một phần thành tổng thể, và bằng cách nói tự nhiên, chúng ta dùng chữ “trái tim” để chỉ định một con người. Các ý tưởng này sẽ giúp chúng ta xác định khách thể của lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa.

(b) Vấn đề nằm giữa ý nghĩa vật chất, ẩn dụ và biểu tượng của chữ “trái tim”; khách thể của lòng sùng kính này là trái tim bằng thịt, hoặc Tình yêu của Chúa Kitô được ẩn dụ hóa bằng chữ “trái tim”; hoặc trái tim bằng thịt, nhưng là biểu tượng của đời sống tình cảm và luân lý của Chúa Giêsu, và nhất là Tình yêu của Ngài dành cho chúng ta. Chúng ta nói rằng sự tôn thờ trái tim bằng thịt là đúng, vì đó là biểu tượng và nhắc nhớ đến Tình yêu của Chúa Giêsu, đời sống tình cảm và luân lý của Ngài. Như vậy, dù trực tiếp với trái tim vật chất, nhưng không dừng lại ở đó: bao gồm tình yêu, khách thể chính, nhưng chỉ đạt đến và qua trái tim bằng thịt, dấu hiệu và biểu tượng của tình yêu. Lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu, phần quan trọng nhất của Thánh Thể Chúa, kông là lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu như được hiểu và được chấp thuận bởi Giáo hội, và cách tương tự cũng được nói về lòng sùng kính Tình yêu của Chúa Giêsu như tách khỏi trái tim bằng thị của Ngài, hoặc nối kết không bằng hệ lụy nào khác hệ lụy của chữ theo nghĩa ẩn dụ. Do đó, trong lòng sùng kính này có hai yếu tố: yếu tố nhận biết và yếu tố tinh thần, trái tim bằng thịt biểu hiện và nhắc nhớ tới yếu tố tinh thần. Nhưng hai yếu tố này không hình thành hai khách thể riêng biệt, cơ thể và linh hồn cũng vậy. Do đó hai yếu tố đó là cần thiết cho lòng sùng kính này vì cơ thể và linh hồn là cần thiết đối với con người. Hai yếu tố này tạo nên một tổng thể, yếu tố chính là tình yêu, nguyên nhân của lòng sùng kính và lý do hiện hữu là linh hồn, đó là yếu tố chính trong con người. Do đó, lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu có thể được xác định là lòng sùng kính Trái Tim Chúa Giêsu tới mức mà trái tim này biểu hiện và nhắc nhớ tới Tình yêu của Ngài, hoặc lòng sùng kính Tình yêu của Đức Giêsu Kitô, vì tình yêu này được nhớ lại và bày tỏ với chúng ta qua trái tim bằng thịt của Ngài.

(c) Do đó, lòng sùng kính hoàn toàn dựa vào biểu tượng của trái tim. Chính biểu tượng này truyền đạt ý nghĩa và tính duy nhất, và biểu tượng này được hoàn tất bằng sự biểu hiện của trái tim bị thương tích. Vì Thánh Tâm Chúa Giêsu bày tỏ cho chúng ta bằng dấu hiệu của Tình yêu của Ngài, vết thương ở Trái Tim hửu hình của Chúa Giêsu sẽ nhắc nhớ về vết thương vô hình của Tình yêu này. Biểu tượng này cũng giải thích rằng lòng sùng kính này, mặc dù dành cho Thánh Tâm Chúa Giêsu một vị trí cần thiết, vẫn là nhỏ bé do liên quan với khoa giải phẫu trái tim hoặc khoa sinh học. Nhưng, trong hình ảnh Thánh Tâm Chúa Giêsu, cách diễn tả biểu tượng này phải trổi vượt hơn mọi thứ, độ chính xác về giải phẫu học không được xem xét; nó có thể làm tổn thương lòng sùng kính bằng cách đưa ra biểu tượng ít hiển nhiên hơn. Rất đúng khi nói trái tim là biểu tượng được phân biệt với trái tim theo giải phẫu học: Tính phù hợp của hình ảnh có lợi cho cách diễn tả của tư tưởng này. Trái tim hữu hình cần thiết đối với hình ảnh Thánh Tâm Chúa Giêsu, nhưng trái tim hữu hình này phải là một trái tim biểu tượng. Cách quan sát tương tự về sinh học, trong đó lòng sùng kính này không thể hoàn toàn vô tư, vì trái tim bằng thịt được tôn thờ để biết Tình yêu của Chúa Giêsu ở đó, là Thánh Tâm Chúa Giêsu, là trái tim sống động thực sự, đã yêu thương và đau khổ; như chúng ta cảm nhận, Trái Tim đó đã chia sẻ đời sống tình cảm và luân lý của Ngài; tuy nhiên, như chúng ta biết, Trái Tim đó thô sơ về các hoạt động của đời sống con người, có một phần như thế trong các hoạt động thuộc đời sống của Ngài. Nhưng sự mặc khải về tình yêu của Đức Kitô không là dấu hiệu thuần túy bình thường, như trong mối tương quan của từ ngữ đối với một vật, hoặc của lá cờ đối với ý tưởng của một quốc gia; Trái Tim vẫn liên kết với đời sống của các việc tốt lành và yêu thương. Tuy nhiên, Trái Tm đó đủ đối với lòng sùng kính mà chúng ta biết và cảm nghiệm được sự kết hiệp thân mật này. Chúng ta không có gì để do with physiology của Thánh Tâm Chúa hoặc xác định các chức năng chính xác của trái tim trong đời sống hằng ngày. Chúng ta biết rằng biểu tượng của trái tim là biểu tượng dựa trên thực tế và nó cấu thành khách thể đặc biệt của lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu, lòng sùng kính này không có nguy cơ sai lầm.

(d) Trên tất cả, trái tim là là biểu tượng của tình yêu, và qua đặc tính này, lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu là điều tự nhiên. Tuy nhiên, hướng tới Trái Tim yêu thương của Chúa Giêsu thì sẽ gặp điều mà Chúa Giêsu liên kết với tình yêu này. Tình yêu này không là không là lý do Đức Kitô thực hiện và chịu đau khổ? Không là nội tại của Ngài, thậm chí còn hơn là ngoại tại của Ngài, đời sống ảnh hưởng tình yêu này? Mặt khác, lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa, được hướng tới Trái Tim sống động của Chúa Giêsu, như vậy đã trở thành quen thuộc với toàn bộ đời sống nội tâm của Thầy Chí Thánh, với các nhân đức và tình cảm của Ngài, với tình yêu vô biên của Chúa Giêsu. Từ đó, sự mở rộng đầu tiên của lòng sùng kính này bắt nguồn từ Trái Tim yêu thương tới sự hiểu biết thân mật của Chúa Giêsu, tới tình cảm và nhân đức của Ngài, tới cảm xúc và đời sống luân lý của Ngài; từ Trái Tim yêu thương tới cách thể hiện yêu thương của tình yêu này. Vẫn có cách mở rộng khác, dù cùng ý nghĩa, được làm theo cách khác, bằng cách chuyển từ Trái Tim tới Ngôi vị, như chúng ta thấy, cách này rất tự nhiên. Khi nói về trái tim to lớn, chúng ta ám chỉ ngôi vị, như khi chúng ta nói tới Thánh Tâm Chúa Giêsu. Tuy nhiên, vì cả hai đều đồng nghĩa, nhưng khi chữ trái tim thường được nói tới con người, vì một con người như vậy được coi là liên quan cảm xúc và đời sống luân lý. Như vậy, khi chúng ta nói tới Chúa Giêsu là Thánh Tâm Chúa, chúng ta có ý nói rằng khi Chúa Giêsu bày tỏ Thánh tâm Ngài, Chúa Giêsu yêu thương và đáng yêu. Chúa Giêsu hoàn toàn được “tóm lược” trong Thánh Tâm Ngài như trong chính Ngài.

(e) Trong chính lòng sùng kính Chúa Giêsu, người ta không thể không thấy Tình yêu Ngài bị khước từ. Tc luôn “than thở” trong Kinh thánh, và các thánh cũng luôn nghe biết những lời than của tình-yêu-không-được-đáp-lại. Một trong các lĩnh vực chính của lòng sùng kính này là cân nhắc Tình yêu của Chúa Giêsu, vì chúng ta đã coi thường và làm ngơ tình-yêu-Ngài-dành-cho-chúng-ta. Chính Ngài đã mặc khải tình yêu này khi Ngài than thở với Thánh Margaritta Maria Alacoque (1647-1690).

(f) Tình yêu này được thể hiện mọi nơi trong Chúa Giêsu và trong cuộc đời Ngài, tình yêu đó có thể giải thích về Ngài bằng những lời nói và hành động của Ngài. Do đó, tình yêu này chiếu sáng hơn trong các mầu nhiệm sinh ra cho chúng ta, trong đó Chúa Giêsu sinh ra nhiều điều tốt và hoàn tất trong tặng phẩm là chính Ngài qua việc nhập thể, cuộc khổ nạn, và bí tích Thánh Thể. Hơn nữa, các mầu nhiệm này có vị trí trong lòng sùng kính này, ở bất kỳ nơi nào chúng ta tìm kiếm Chúa Giêsu và các dấu hiệu yêu thương của Ngài thì chúng ta đều tìm thấy ở một mức độ rộng lớn hơn trong các hành động vĩ đại của Ngài.

(g) Chúng ta biết rằng lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu, Đấng là biểu tượng của tình yêu, có trong tình yêu của Ngài dành cho nhân loại. Điều này rõ ràng, vì điều này có trong tình yêu của Ngài dành cho nhân loại, Thánh Tâm Ngài đã quá yêu chúng ta, như Ngài đã mặc khải cho Thánh Margaritta Maria Alacoque.

(h) Cuối cùng, vấn đề là tình yêu đó thể hiện qua lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu, Ngài yêu chúng ta với tư cách một con người và yêu chúng ta với tư cách Thiên Chúa, đó là lòng thương xót bao la của Ngài. Chắc chắn đó là tình yêu của Thiên-Chúa-làm-người, tình yêu của Ngôi-Lời-nhập-thể. Tuy nhiên, đó không là những con người sùng mộ nghĩ về việc tách rời 2 tình yêu này như họ đã tách rời 2 bản tính trong Chúa Giêsu. Ngoài ra, mặc dù chúng ta có thể muốn giải quyết phần này của vấn đề bằng mọi cách, chúng ta có thể thấy rằng các ý kiến của các tác giả đều khác nhau. Một số người cho rằng Trái Tim bằng thịt chỉ được liên kết với tình yêu nhân loại, họ cho rằng đó không là biểu tượng của Tình yêu Thiên Chúa. Hơn nữa, không riêng ngôi vị của Chúa Giêsu, do đó, Tình yêu Thiên Chúa không là khách thể trực tiếp của lòng sùng kính này. Một số khác cho rằng Tình yêu Thiên Chúa khác với Ngôi-Lời-nhập-thể không là khách thể của lòng sùng kính này, họ tin như vậy khi coi là tình yêu của Ngôi-Lời-nhập-thể, và họ không hiểu tại sao tình yêu này cũng không thể được biểu tượng là Trái Tim bằng thịt, hoặc tại sao lòng sùng kính này chỉ nên hạn chế là tình yêu sáng tạo.

Nền tảng lòng sùng kính Thánh Tâm

Vấn đề này có thể được cân nhắc theo 3 phương diện: lịch sử, thần học và khoa học.

1. Nền tảng lịch sử. Khi chấp thuận lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu, Giáo hội không tin thị kiến của Thánh Margaritta Maria Alacoque, coi đó là trừu tượng và kiểm tra chính lòng sùng kính này. Thị kiến của Thánh Margaritta Maria Alacoque có thể sai, nhưng lòng sùng kính này thì không sai, do đó xứng đáng và vững chắc. Tuy nhiên, sự thật là lòng sùng kính này được truyền bá chủ yếu do ảnh hưởng phong trào bắt đầu từ Paray-le-Monial; và trước khi được phong chân phước, thị kiến của nữ tu Margaritta Maria Alacoque đã được Giáo hội kiểm tra kỹ lưỡng, phán đoán những trường hợp như vậy không liên quan tính không sai lầm của bà nhưng chỉ ngụ ý tính chắc chắn con người đủ để bảo đảm tính tất nhiên của lời nói và hành động.

2. Nền tảng thần học. Thánh Tâm Chúa Giêsu, cũng như những thứ khác thuộc Ngôi vị của Ngài, xứng đáng để chúng ta tôn thờ, nhưng điều này không như vậy nếu Ngôi vị đó được coi là tách biệt và không liên kết với Ngôi vị này. Tuy nhiên, trong “Auctorem Fidei” (1) năm 1794, ĐGH Piô VI đã xác nhận lòng sùng kính này trong phương diện này để bác bỏ các lời vu khống của tà thuyết Jansen (2). Mặc dù sự tôn thờ này dành cho Thánh Tâm Chúa Giêsu, mở rộng vượt ngoài trái tim bằng thịt, hướng tới tình yêu mà Trái Tim này là biểu tượng sống động và có ý nghĩa. Về điểm này, lòng sùng kính không đòi buộc sự biện hộ, vì điều đó thuộc về Ngôi vị của Chúa Giêsu được hướng tới, nhưng đối với Ngôi vị không thể tách biệt khỏi thiên tính của Ngài. Chúa Giêsu thể hiện sống động điều tốt lành của Thiên Chúa, của Tình Phụ tử yêu thương vô hạn, là khách thể của lòng sùng kính Thánh Tâm, vì Ngài thực sự là khách thể của Kitô giáo. Cái khó là sự hiệp nhất của trái tim và tình yêu, trong mối tương quan mà lòng sùng kính giữa điều này và điều kia.

3. Nền tảng triết học và khoa học. Về phương diện này cũng có sự không kiên định giữa các thần học gia, không coi là nền tảng của mọi vật mà về vấn đề giải thích. Đôi khi họ nói như thể trái tim là cơ phận của tình yêu, nhưng điểm này không có nền tảng về lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu, đủ để nói rằng trái tim là biểu tượng của tình yêu, và đối với nền tảng của biểu tượng, sự-nối-kết-thực-tế hiện hữu giữa trái tim và các cảm xúc. Ngày nay, biểu tượng của trái tim là một thực tế và mọi người đều cảm thấy trong trái tim có một loại tiếng vang của tình cảm. Nghiên cứu sinh lý về tiếng vọng này có thể rất thú vị, nhưng không cần đối với lòng sùng kính, vì nền tảng của lòng sùng kính là sự kiện đã được kiểm chứng bằng kinh nghiệm hằng ngày, sự thật mà nghiên cứu sinh lý xác định các tình trạng, nhưng không đòi hỏi nghiên cứu này hoặc bất kỳ sự hiểu biết đặc biệt nào với chủ thể của nó.

Hành động riêng của lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu

Hành động này được đòi hỏi bởi chính khách thể của lòng sùng kính, vì lòng sùng kính tình yêu của Chúa Giêsu đối với chúng ta nên là lòng sùng kính nổi trội về tình yêu đối với Chúa Giêsu. Lòng sùng kính này được thể hiện bằng việc đáp lại tình yêu; mục đích của lòng sùng kính này là yêu mến Chúa Giêsu, Đấng yêu thương chúng ta vô cùng, để tình yêu đáp lại tình yêu. Tuy nhiên, tình yêu của Chúa Giêsu thể hiện với linh hồn đạo đức là tình yêu bị coi thường, nhất là qua Bí tích Thánh Thể, tình yêu này đươc diễn tả trong lòng sùng kính này có tính đền đáp, và do đó có sự quan trọng của việc đền tội, rước lễ để đền tội, và chia sẻ đau khổ của Chúa Giêsu. Nhưng không gì có thể làm kiệt quệ sự phong phú của lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu. Tình yêu là sự ấp ủ linh hồn, càng hiểu biết tình yêu thì càng gắn bó với Chúa Giêsu, kết hiệp mật thiết vớ Ngài, với Thánh Tâm Ngài.

Ý tưởng lịch sử về việc phát triển lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu

1. Từ thời Thánh Gioan và Thánh Phaolô, trong Giáo hội cũng đã có những cách sùng kính như lòng sùng kính Tình Yêu của Thiên Chúa, Đấng đã yêu thế gian đến nỗi trao ban chính Con Một của Ngài, và chính Chúa Giêsu cũng yêu thương chúng ta đến nỗi hiến thân vì chúng ta. Nhưng, nói một cách chính xác, đây không là lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu, vì không có lòng kính trọng Thánh Tâm Chúa Giêsu như biểu tượng của Tình yêu của Ngài dành cho chúng ta. Từ các thế kỷ đầu, phù ợp với gương của của Thánh sử, cạnh sườn của Đức Kitô và mầu nhiệm Máu và Nước đã được suy niệm, và Giáo hội chiêm ngưỡng những gì chảy ra từ cạnh sườn của Chúa Giêsu, như bà Êva được tạo nên từ xương sườn của ông Adam. Nhưng trong 10 thế kỷ đầu không có gì chứng tỏ điều đó, không có sự tôn thờ nào dành cho Trái Tim bị thương tích ấy.

2. Thế kỷ XI và XII, chúng ta thấy có những cách chứng tỏ lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu. Vết thương ở Trái Tim dần dần được đạt tới, và vết thương đó là biểu tượng của tình yêu. Đó là trong không khí nhiệt thành của Dòng Biển Đức hoặc Dòng Xitô, theo tư tưởng của Thánh Anselmô hoặc Thánh Bênađô, rằng lòng sùng kính này tăng lên, dù không thể xác định các văn bản hoặc những người sùng kính đầu tiên. Theo Thánh Gertrude, Thánh mechtilde, và tác giả bản “Vitis mystica” (Cây nho Thần bí) đã nổi danh, chúng ta không thể chắc chắn xác định ai đã có công soạn “Vitis mystica”. Cho tới thời gian gần đây, lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu đã được quy cho Thánh Bênađô, nhưng cũng có thể quy cho Thánh Bônaventura (“S. Bonaventura opera omnia”, 1898, VIII, LIII sq.). Nhưng, có thể vậy, nó gồm một trong những đoạn ahy đã từng truyền cảm hứng lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu, thích hợp để Giáo hội có những bài học về kinh đêm của ngày lễ. Đối với Thánh Mechtilde (qua đời năm 1298) và Thánh Gertrude (qua đời năm 1302), đó là lòng sùng kính tương tự đã được chuyển thành nhiều lời nguyện và cách sử dụng. Điều đáng quan tâm là thị kiến của Thánh Gertrude vào chính ngày lễ Thánh Gioan Tông đồ, vì điều đó đã hình thành lịch sử của lòng sùng kính này. Được tựa đầu vào ngực Chúa Giêsu, bà đã nghe nhịp đập của Thánh Tâm Chúa Giêsu và hỏi Thánh Gioan rằng trong Bữa Tiệc Ly, ngài cũng nghe những nhịp đập kỳ diệu như vậy mà sao ngài không nói gì. Thánh Gioan trả lời rằng mặc khải này đã được giữ cho các hậu duệ, khi mà thế giới trở nên nguội lạnh, họ cần nhen nhóm lại tình yêu này (Legatus divinae pietatis, IV, 305; Revelationes Gertrudianae, ed. Poitiers and Paris, 1877).

3. Từ thế kỷ XIII tới XVI, lòng sùng kính này được truyền bá nhưng vẫn không phát triển nhiều. Khắp nơi được thực hành bởi các linh hồn được đặn ân, các thánh và các dòng tu như Dòng Phanxicô, Dòng Đa Minh, Dòng Carthusians, v.v… có nhiều tấm gương về lòng sùng kính này. Vì thế, đó là lòng sùng kính riêng của các dòng thần bí này. Không có gì khởi đầu, chỉ có viêc truyền bá lòng sùng kính Năm Dấu Thánh, trong đó Dấu Thánh ở Thánh Tâm được lưu ý nhất, và để xúc tiến điều đó, Dòng Phanxicô đã nỗ lực nhiều.

4. Khoảng thế kỷ XVII, lòng sùng kính tiếp tục phát triển và chuyển từ lĩnh vực thần bí sang lĩnh vực khổ hạnh Kitô giáo. Điều đó cấu thành một lòng sùng kính khách quan bằng những lời cầu nguyện được soạn sẵn và các cách thực hiện đặc biệt mà giá trị và cách thực hành đó được ca tụng. Chúng ta biết điều này nhờ các văn bản của các “sư phụ” về đời sống tâm linh là Lanspergius đạo hạnh (qua đời năm 1539), Dòng Carthusians ở Cologne, tu sĩ đạo hạnh Louis Blois (Blosius, 1566), Dòng Biển Đức, và Tu viện trưởng Liessies ở Hainaut. Có thể kể cả Chân phước Gioan Avila (qua đời năm 1569) và Thánh Phanxicô Salê, thế kỷ XVII.

5. Từ đó, mọi thứ cho thấy rõ lòng sùng kính này. Các tác giả khổ hạnh nói về điều đó, nhất là các tác giả Dòng Tên như Alvarez de Paz, Luis de la Puente, Saint-Jure, và Nouet, vẫn có những thỏa thuận đặc biệt về vấn đề này như tác phẩm nhỏ “Meta Cordium, Cor Jesu” của LM Druzbicki (qua đời năm 1662). Trong số các nhà thần bí và các linh hồn đạo đức tôn sùng Thánh Tâm Chúa Giêsu có Thánh Francis Borgia, Chân phước Phêrô Canisiô, Thánh Aloysiô Gonzaga, và Thánh Anphong Rodriguez, Dòng Tên; kể cả Tôi tớ Chúa Marina de Escobar (qua đời năm 1633), ở Tây Ban Nha; Bậc đáng kính Madeleine Thánh Giuse và Tôi tớ Chúa Margaritta Thánh thể, Dòng Cát Minh, Pháp quốc; Jeanne de S. Mathieu Deleloe (qua đời năm 1660), Dòng Biển Đức, Bỉ quốc; Armelle ở Vannes (qua đời năm 1671); thậm chí cả những người theo thuyết Jansen hoặc các trung tâm thế giới, Marie de Valernod (qua đời năm 1654) và Angélique Arnauld; M. Boudon, the great archdeacon ở Evreux, Linh mục Huby, tông đồ ẩn dật ở Brittany, và đặc biệt là Bậc đáng kính Maria Nhập Thể (qua đời tại Quebec năm 1672). Trực giác của Thánh Phanxicô Salê, các bài suy niệm của Mẹ Huillier (qua đời năm 1655), các thị kiến của Mẹ Anne-Marguerite Clément (qua đời năm 1661), và của nữ tu Jeanne-Bénigne Gojos (qua đời năm 1692) là những cái khởi đầu. Linh ảnh Thánh Tâm Chúa Giêsu có ở khắp nơi, đó là nhờ lòng sùng kính của Dòng Phanxicô đối với Năm Dấu Thánh và thói quen tốt lành của Dòng Tên thường đặt linh ảnh Thánh Tâm Chúa Giêsu trên các cuốn sách và trên tường nhà nguyện.

6. Tuy nhiên, lòng sùng kính này vẫn là riêng tư cá nhân. Thánh LM Gioan Eudes (1602-1680) đã công khai hóa để tôn kính bằng một Thánh lễ. LM Eudes là tông đồ của Trái Tim Đức Mẹ, nhưng việc ngài tôn sùng Trái Tim Vô Nhiễm có cả Thánh Tâm Chúa Giêsu. Dần dần lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu trở nên lòng sùng kính riêng biệt, và ngày 31-8-1670, lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu lần đầu tiên được cử hành trọng thể tại Đại chủng viện Rennes. Theo sau là ở Coutances vào ngày 20-10, vì thế ngày này có liên quan lễ Thánh Eudes. Lễ này mau chóng lan rộng tới các giáo phận khác, và lòng sùng kính này cũng xuất hiện tại nhiều dòng tu. Đây đó cũng bắt đầu có lòng sùng kính này, khởi đầu từ Paray.

7. Chính Thánh Margaritta Maria Alacoque, một nữ tu khiêm nhường của Dòng Thăm Viếng ở Paray-le-Monial, đã được Chúa Giêsu chọn để mặc khải những mong muốn của Thánh Tâm Ngài và giao nhiệm vụ phổ biến cách sống mới đối với lòng sùng kính này. Không có gì cho biết rõ rằng nữ tu đạo hạnh này đã biết lòng sùng kính này trước những lần được mặc khải, hoặc là bà đã chú ý tới điều đó. Các mặc khải này nhiều lắm, và những lần hiện ra tiếp theo rất đáng chú ý: Chúa Giêsu hiện ra vào ngày lễ Thánh Gioan, khi Ngài cho phép nữ tu Margaritta Maria Alacoque, như Ngài đã cho phép Thánh Gertrude, được tựa đầu vào ngực Ngài, được nghe những nhịp đập yêu thương của Ngài, được biết Ngài muốn bày tỏ lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa cho toàn nhân loại và loan truyền lòng nhân lành của Chúa. Ngài bày tỏ cho bà điều này vào ngày 27-12, có thể là năm 1673. Ngài hiện ra với lòng yêu thương và yêu cầu tôn sùng tình yêu cứu chuộc (expiatory love) – rước lễ thường xuyên, rước lễ vào ngày Thứ Sáu Đầu Tháng, và làm Giờ Thánh (có thể là tháng 6 hoặc tháng 7-1674); đó là lần hiện ra quan trọng xảy ra trong tuần bát nhật lễ Mình Máu Thánh Chúa Giêsu (Corpus Christi) năm 1675, có thể vào ngày 16 tháng 6, khi Chúa Giêsu nói: “Hãy ngắm nhìn Thánh Tâm Ta yêu thương nhân laoị biết bao… Nhưng thay vì được biết ơn, Ta chỉ nhận được sự vô ơn…”, và Ngài yêu cầu bà vận động thành lập lễ kính Thánh Tâm vào Thứ Sáu sau lễ kính Mình Máu Thánh, và nói bà cho LM Colombière biết, lúc đó LM Colombière là bề trên Dòng Tên tại Paray.

Cuối cùng, lòng sùng kính này là trách nhiệm loan truyền của Dòng Thăm Viếng và các linh mục Dòng Tên. Vài ngày sau lần hiện ra quan trọng đó, tháng 6-1675, nữ tu Margaritta Maria Alacoque đã nói với LM Colombière, và điều này được nhận biết là tinh thần của Chúa, LM Colombière đã tận hiến cho Thánh Tâm Chúa Giêsu, hướng dẫn nữ tu Margaritta Maria Alacoque viết lại việc thị kiến, được dùng ở Pháp quốc và Anh quốc. Khi LM Colombière qua đời, 15-1-1682, người ta phát hiện bản chép tay mà ngài đã yêu cầu nữ tu Margaritta Maria Alacoque viết, cùng với vài nhận xét về lợi ích của lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu. Bản giải thích lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu được xuất bản tại Lyons năm 1684. Cuốn sách nhỏ này được đọc nhiều, ngay cả ở Paray, dù vẫn có sự lầm lẫn về Thánh Margaritta Maria Alacoque, người đã có công truyền bá lòng sùng kính này. Moulins với Mẹ de Soudeilles, Dijon với Mẹ de Saumaise và nữ tu Joly, Semur với Mẹ Greyfié, và thậm chí ở Paray, đã phản đối nhưng rồi lại hòa nhập. Ngoài các tu sĩ Dòng Thăm Viếng, các linh mục, các tu sĩ, và giáo dân đã tán thành, đặc biệt là một tu sĩ Dòng Phanxicô, hai tu sĩ Dòng Thánh Margaritta Alacoque, và một số tu sĩ Dòng Tên, các linh mục Croiset và Gallifet, đã hành động nhiều vì lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu.

8. Sau khi Thánh Margaritta Maria Alacoque qua đời ngày 17-10-1690, lòng nhiệt thành của những người này vẫn không giảm sút; ngược lại, năm 1691, LM Croiset đã cho xuất bản cuốn “De la Dévotion au Sacré Cœur” (Về việc tôn sùng Thánh Tâm Chúa Giêsu) để truyền bá lòng sùng kính này. Mặc dù gặp nhiều trở ngại, sự trì trệ của Tòa thánh, năm 1693 đã có Huynh đoàn Thánh Tâm Chúa (Confraternities of the Sacred Heart), năm 1697, đã giao hội này cho các tu sĩ Dòng Thăm Viếng với lễ Năm Dấu Thánh (Mass of the Five Wounds). Lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu phát triển mạnh, nhất là tại các dòng tu. Năm 1720, dịch bệnh ở Marseilles có thể là dịp đầu tiên để tận hiến và công khai tôn sùng Thánh Tâm Chúa Giêsu bên ngoài các cộng đoàn tu. Các thành phố khác ở miền Nam noi gương của Marseilles, thế nên lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu trở nên phổ biến. Năm 1726, người ta xin ý kiến của Rôma về lễ Thánh Tâm, nhưng Rôma vẫn từ chối vào năm 1729. Tuy nhiên, năm 1765, theo yêu cầu của Nữ hoàng, lễ này chính thức được các giám mục Pháp đón nhận. Năm 1856, theo yêu cầu của các giám mục Pháp, ĐGH Piô IX đã mở rộng lễ này cho Giáo hội hoàn vũ bằng một nghi thức trang trọng. Năm 1889, lễ này được Giáo hội nâng lên thành lễ bậc nhất. Việc tận hiến và chuẩn bị cho việc sùng kính này. Nhất là từ năm 1850, các cộng đoàn và các nhà dòng được tận hiến cho Thánh Tâm Chúa Giêsu, và năm 1875, việc tận hiến này được mở rộng ra cả thế giới Công giáo. ĐGH vẫn không muốn can thiệp. Cuối cùng, ngày 11-6-1899, theo lệnh của ĐGH Lêô XIII, và theo công thức ngài lập ra, cả thế giới được tận hiến cho Thánh Tâm Chúa Giêsu. ĐGH Lêô XIII gọi điều này là “điều vĩ đại” trong triều đại giáo hoàng của ngài, điều mà một nữ tu Dòng Chúa Chiên Lành ở Oporto (Bồ Đào Nha) đã nói rằng bà nhận từ chính Chúa Giêsu. Bà là thành viên của cộng đoàn Drost-zu-Vischering, và được biết đến là nữ tu Maria Thánh Tâm Chúa. Bà qua đời vào đúng ngày lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu, 2 ngày trước khi tận hiến, điều được hoãn lại vào Chúa nhật kế tiếp. Trong khi nói tới điều này, chúng ta đừng quên nói tới lòng sùng kính riêng trong các linh hồn. Vả lại, chúng ta đừng bỏ qua tính xã hội trong những năm sau. Nhất là Giáo hội Công giáo Pháp bám sát điều này như niềm hy vọng mạnh mẽ nhất của ơn cứu độ.


-----------

(*) Auctorem Fidei là sắc chỉ của ĐGH Piô VI, vào năm 1794, lên án 85 luận đề của Nghị hội phái Jansenist của Ý ở Pistoia, do giám mục Scipione de'Ricci (1741-1810) cầm đầu. Trong các quan điểm khác bị lên án có thuyết cho rằng các hội đồng giám mục cấp quốc gia có quyền cởi buộc độc lập với Tòa thánh.

(1) Jansenism là thuyết của thần học gia Công giáo Cornelis Jansen (1585–1638), khoảng 1656-1657, dựa trên thuyết tiền định luân lý (moral determinism). Các nguyên tắc thần học của Cornelis Jansen nhấn mạnh sự tiền định, phủ nhận ý chí tự do, cho rằng bản chất con người hư hỏng, không thể tốt lành, còn Chúa Kitô chỉ chết cho những người được chọn chứ không chết cho mọi người. Giáo hội Công giáo kết án thuyết này là lạc giáo. Thuyết này bị những người cải cách trong giới giáo sĩ, tu sĩ và học giả Công giáo Âu châu Tây phương phản đối, và bị kết án là tà thuyết. Bị ảnh hưởng các tác phẩm của thánh Augustinô, nhất là sự tấn công của thánh Augustinô đối với thuyết Pelagianism (phủ nhận tội tổ tông) và thuyết ý chí tự do, Jansen theo thuyết của thánh Augustinô về sự tiền định và sự cần thiết của Ơn Chúa, một lập trường bị Công giáo La Mã coi là gần với thuyết của Calvin, đã cấm lưu hành cuốn The Augustinus của ông năm 1642. Sau khi Jansen chết năm 1638, những người theo ông đã lập cơ sở tại tu viện ở Port-Royal, Pháp. Blaise Pascal, một đệ tử trung thành của Jansen, đã bảo vệ các giáo huấn của họ trong Provincial Letters (1656–1657). Năm 1709, vua Louis XIV ra lệnh bãi bỏ tu viện này. Những người theo Jansen bắt đầu lập Giáo hội Jansen năm 1723 và tồn tại tới cuối thế kỷ 20.
____________________________________

NNH Sk...
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://runglathap.forumvi.net
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: Tôn Sùng Thánh Tâm Chúa Giêsu   

Về Đầu Trang Go down
 
Tôn Sùng Thánh Tâm Chúa Giêsu
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
 :: TÂM HỒN... :: TÂM LINH ĐỜI SỐNG-
Chuyển đến